🌀 Liệu Pháp Ánh Sáng

Ảnh RAW là gì? Theo định nghĩa, hình ảnh RAW là gần như tập tin hình hình ảnh kỹ thuật số tiềupes2.edu.vn ẩn dữ liệu ko được xử lý, nén tuyệt upes2.edu.vnã hóa do cảupes2.edu.vn biến hình hình ảnh ghi dìupes2.edu.vn sau upes2.edu.vnỗi lần bấupes2.edu.vn upes2.edu.vnáy.Nguyên tắc tạo ảnh RAW rất đơn giản, lúc bấupes2 Liệu pháp ánh sáng, hay còn được gọi là quang trị liệu, là phương pháp trị liệu một số tình trạng sức khỏe bằng cách cho tiếp xúc với ánh sáng nhân tạo. Ánh sáng được sử dụng trong một số thời điểm trong ngày hoặc kiểm soát trong một khoảng thời gian nhất định. Liệu pháp ánh sáng giảm đau hoạt động chủ yếu ở 3 loại bước sóng được chia làm 2 nhóm. Ánh sáng xanh, đỏ được dùng nhiều trong các chỉ định thẩm mỹ như điều trị mụn trứng cá, tăng sinh collagen giúp làn da tươi trẻ tự nhiên. WANLONG là một trong những nhà cung cấp liệu pháp đèn đỏ tại nhà chuyên nghiệp nhất ở Trung Quốc, chuyên cung cấp các sản phẩm tùy chỉnh chất lượng cao. Vui lòng bán buôn hoặc mua liệu pháp ánh sáng đỏ giảm giá tại nhà để bán tại đây từ nhà máy của chúng tôi. Để được tư vấn về giá, hãy liên hệ với Lợi ích của liệu pháp ánh sáng đỏ: trị mụn trứng cá, nhiễm trùng da; ngăn ngừa nếp nhăn và da chảy xệ; ngăn ngừa tăng sắc tố da sau khi tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, giảm tình trạng viêm da Liệu pháp ánh sáng được sử dụng như một phương pháp điều trị cho một số tình trạng sức khỏe gồm: Các loại bệnh lý trầm cảm khác Rối loạn nhịp sinh học, rối loạn giấc ngủ Sa sút, giảm trí tuệ Liệu pháp ánh sáng đỏ Trị liệu bằng ánh sáng đỏ Liệu pháp ánh sáng đỏ đã được chứng minh là có lợi cho chứng viêm và đau mãn tính. Các nghiên cứu mới được thực hiện hàng năm xác nhận rằng nó không xâm lấn, nhẹ nhàng và tự nhiên. Trị đau cơ bằng ánh sáng đỏ Tài liệu. Bài dự thi Trước khi đi vào tìm hiểu về Trách nhiệm của con đối với cha mẹ được pháp luật quy định như rằng những chia sẻ của chúng tôi trên đây về quyền và nghĩa vụ của con đã giúp Quý vị làm sáng tỏ Trách nhiệm của con đối với cha mẹ được Vui lòng bán buôn hoặc mua liệu pháp ánh sáng đỏ giảm giá để bán tại đây từ nhà máy của chúng tôi. Để được tư vấn về giá, hãy liên hệ với chúng tôi. WANLONG là một trong những nhà cung cấp liệu pháp đèn đỏ chuyên nghiệp nhất ở Trung Quốc, chuyên cung cấp các sản l7sZa. Liệu pháp ánh sáng đỏ là một phương pháp điều trị ngày càng trở nên phổ biến trong các phòng khám da liễu và spa trên khắp đất nước. Liệu pháp ánh sáng đỏ có tác dụng trong việc loại bỏ nếp nhăn, mụn trứng cá đỏ và chống lão hóa. Một số nghiên cứu cho thấy nó có thể điều trị đau khớp, rụng tóc và các tác dụng phụ khó chịu của một số phương pháp điều trị ung thư. Nhưng làm thế nào nó làm tất cả những điều này? Tác dụng của liệu pháp ánh sáng đỏ hiệu quả như thế nào? Hãy theo dõi bài viết dưới đây của Medplus để tìm câu trả lời nhé. Liệu pháp ánh sáng đỏ là gì Liệu pháp ánh sáng đỏ – còn được gọi là liệu pháp ánh sáng LED đỏ, liệu pháp ánh sáng mức độ thấp LLLT, điều biến quang học và liệu pháp laser lạnh – bao gồm việc để các mô cơ thể tiếp xúc với ánh sáng đỏ và gần hồng ngoại giữa các bước sóng 660 nm và 890 nm với một trong hai laser mức thấp hoặc đèn LED đỏ. Ánh sáng từ các thiết bị này được sử dụng để điều trị nhiều loại bệnh, từ nếp nhăn đến vết thương. Một số thiết bị trị liệu bằng ánh sáng đỏ có kích thước nhỏ và cầm tay trong khi những thiết bị khác có thể được đặt ở phía trên khuôn mặt của bạn như đèn của nha sĩ và những thiết bị khác trông giống giường tắm nắng.[elementor-template id="263870"] Susana Salazar, chuyên gia thẩm mỹ toàn diện tại Studio Britta ở Thành phố New York, cho biết “Tôi đã sử dụng liệu pháp ánh sáng LED đỏ trong nhiều năm. Nó kích hoạt sản xuất collagen và có nhiều lợi ích khác cho da như đẩy nhanh quá trình chữa bệnh, giúp giảm viêm và mẩn đỏ trên khuôn mặt, giảm thiểu các vết thâm và cải thiện tuần hoàn tổng thể.” Các bước sóng đỏ và gần hồng ngoại này không đốt cháy hoặc làm tổn thương da không giống như các tia UVA nguy hiểm trong giường tắm nắng, nhưng chúng có thể được da hấp thụ ở độ sâu tới 10 mm – sâu hơn nhiều so với bất kỳ loại serum hoặc kem nào có thể xuyên qua . 2. Công nghệ ánh sáng đỏ có nguồn gốc từ đâu? Đáng ngạc nhiên là liệu pháp ánh sáng đỏ có thể bắt nguồn từ NASA. Vào những năm 1990, các nhà khoa học đã phát triển công nghệ có đèn LED đỏ để giúp thúc đẩy sự tăng trưởng và quang hợp của thực vật ở tàu con thoi. Điều này đã thúc đẩy nghiên cứu liệu liệu pháp ánh sáng đỏ có thể mang lại lợi ích cho con người, đặc biệt là đối với các phi hành gia – những người gặp các vấn đề như vết thương khó lành do không trọng lượng. Cơ chế mà liệu pháp ánh sáng đỏ mang lại lợi ích vẫn còn chưa được hiểu rõ, điều này gây ra một chút tranh cãi, nhưng nó được cho là hoạt động bằng cách kích thích ty thể trong tế bào da của chúng ta. Ti thể là “nhà máy” điện của tế bào, biến thức ăn và oxy thành năng lượng dưới dạng adenosine triphosphate ATP. Ti thể được kích thích để sản xuất nhiều ATP hơn, và do đó, giúp tế bào hoạt động, tái tạo và tự sửa chữa hiệu quả hơn. Tế bào gốc cũng có thể được kích hoạt bằng liệu pháp ánh sáng đỏ, giúp thúc đẩy tăng cường sửa chữa và chữa lành mô. 3. Tác dụng của liệu pháp ánh sáng đỏ trong Y khoa và làm đẹp Tác dụng của liệu pháp ánh sáng đỏ trong Y khoa và làm đẹp Chữa lành vết sẹo và vết thương Những tình trạng của da như sẹo mụn, sẹo bỏng hay vết thương cần nhiều thời gian để lành… thì liệu pháp ánh sáng đỏ sẽ là một lựa chọn thích hợp. Ánh sáng đỏ có thể giúp các tế bào da hoạt động hiệu quả hơn và sửa chữa tổn thương bằng cách kích thích các ty thể và tế bào gốc. Trong một nghiên cứu, những bệnh nhân bị mụn trứng cá nhẹ đến trung bình được điều trị bằng ánh sáng đỏ ở hai bước sóng khác nhau ở hai bên mặt – 630 nm ở bên phải, 890 nm ở bên trái – và chỉ có bước sóng thấp hơn đã làm giảm đáng kể các tổn thương do mụn . Trong một nghiên cứu khác, bệnh nhân tiểu đường đã giảm đáng kể kích thước và cơn đau của vết loét ở chân do tiểu đường của họ với 12 buổi trị liệu bằng ánh sáng đỏ ở bước sóng 632,8 nm. Thúc đẩy sản xuất collagen Ngoài lợi ích làm đẹp, liệu pháp ánh sáng đỏ cũng có thể giúp chống lại các vấn đề về da phổ biến xảy ra theo tuổi tác, như giảm sản xuất collagen bắt đầu giảm vào khoảng 30 tuổi, có thể làm tăng sự xuất hiện của nếp nhăn. Một nghiên cứu cho thấy rằng những bệnh nhân được điều trị bằng ánh sáng đỏ trên mặt hai lần một tuần trong tổng số 30 buổi điều trị đã cải thiện làn da, tông màu da, độ mịn da và mật độ collagen được đo bằng kiểm tra siêu âm. Thúc đẩy sự phát triển của tóc Liệu pháp ánh sáng đỏ giúp thúc đẩy sự phát triển của tóc Loại rụng tóc phổ biến nhất là rụng tóc nội sinh tố, ảnh hưởng đến 50% nam giới trên 40 tuổi và 75% phụ nữ trên 65 tuổi. Tác dụng của liệu pháp ánh sáng đỏ trong điều trị rụng tóc đã được chứng min. Nghiên cứu cho thấy liệu pháp ánh sáng đỏ có thể là một giải pháp hiệu quả cao mà không cần dùng thuốc. Một đánh giá nghiên cứu cho thấy liệu pháp ánh sáng đỏ an toàn và hiệu quả để thúc đẩy sự phát triển của tóc ở cả nam và nữ. Ánh sáng đỏ hoạt động bằng cách kích thích các tế bào gốc trong nang lông và chuyển các nang sang giai đoạn anagen giai đoạn tăng trưởng tích cực. Cần có thêm nghiên cứu để xác định bước sóng tối ưu để thúc đẩy sự phát triển của tóc, nhưng một nghiên cứu cho thấy rằng những phụ nữ được điều trị bằng ánh sáng đỏ ở bước sóng 650 nm cách ngày trong 17 tuần thì mật độ tóc tăng 51% . Làm dịu cơn đau khớp, cơ và đau gân Vì ánh sáng đỏ và tia hồng ngoại gần thâm nhập sâu hơn các bước sóng khác, nên nó có khả năng đặc biệt để điều trị các vấn đề bên dưới bề mặt da, như đau khớp, chấn thương cơ và gân. Một trong những ứng dụng ban đầu của liệu pháp ánh sáng đỏ là trong điều trị hội chứng ống cổ tay. Nghiên cứu cho thấy ánh sáng đỏ có thể làm giảm đau và cải thiện sức mạnh cầm nắm ở bệnh nhân ống cổ tay. Một nghiên cứu cũng tiết lộ rằng liệu pháp ánh sáng đỏ là một nguồn lực tuyệt vời trong điều trị chấn thương cơ xương do thực tế là nó làm giảm tình trạng viêm và tăng sự hình thành mạch sự phát triển của các mạch máu mới. Ngoài ra, các tình trạng đau đớn như viêm khớp dạng thấp, viêm xương khớp, viêm gân, viêm cân gan chân và đau lưng đều phản ứng tích cực với liệu pháp ánh sáng đỏ. Tăng tốc độ phục hồi và tăng cường sức bền Tác dụng của liệu pháp ánh sáng đỏ cho các vận động viên nam và nữ cũng là điều đáng được kể tới. Một nghiên cứu cho thấy những người đàn ông tham gia tập thể dục cường độ cao và cũng được điều trị bằng liệu pháp ánh sáng đỏ đã cải thiện hiệu suất và ít đau cơ do tập thể dục hơn. Trong khi một nghiên cứu khác trên các nữ cầu thủ bóng rổ cho thấy liệu pháp ánh sáng đỏ giúp cải thiện sức bền cũng như giấc ngủ. Các nhà khoa học nói rằng liệu pháp ánh sáng đỏ giúp ty thể sản xuất năng lượng hiệu quả hơn, khiến cơ bắp ít bị mệt mỏi hơn. Giảm tác dụng phụ của điều trị ung thư Nghiên cứu do NASA thực hiện đã phát hiện ra rằng liệu pháp ánh sáng đỏ giúp chống lại một tác dụng phụ của hóa trị liệu gọi là viêm niêm mạc miệng, đặc trưng bởi các vết loét cực kỳ đau đớn, đỏ, khô và cảm giác bỏng rát trong miệng và cổ họng. Một thử nghiệm kéo dài hai năm, trong đó bệnh nhân ung thư được điều trị bằng đèn LED hồng ngoại xa và hồng ngoại xa đã xác định rằng 96% bệnh nhân giảm đau nhờ phương pháp điều trị này. Đây là một tin tuyệt vời vì nó có thể giúp tăng lượng thức ăn, giảm sử dụng thuốc giảm đau và nâng cao tinh thần cho bệnh nhân ung thư. 4. Các tác dụng phụ của liệu pháp ánh sáng đỏ Liệu pháp ánh sáng đỏ không có nhiều tác dụng phụ và an toàn cho mọi loại da, ngay cả đối với phụ nữ đang mang thai. Một số thiết bị trị liệu bằng ánh sáng đỏ thậm chí còn được FDA chấp thuận để điều trị rụng tóc, hội chứng ống cổ tay, đau cơ và khớp cũng như vết thương chậm lành. Tuy nhiên, các tình trạng sức khỏe khác nhau có liều bước sóng tối ưu khác nhau và nghiên cứu cho thấy rằng liều thấp hơn thường có thể hiệu quả hơn. Vì vậy, điều quan trọng là bạn phải tìm một bác sĩ có trình độ chuyên môn để thực hiện liệu pháp đèn đỏ phù hợp với tình trạng cụ thể mà bạn đang cố gắng điều trị hoặc bạn tìm một thiết bị được FDA chấp thuận và làm theo hướng dẫn của nhà sản xuất một cách cẩn thận. Điều này sẽ giảm thiểu mọi tác dụng phụ tiềm ẩn có thể xảy ra do sử dụng không đúng cách. 5. Kết luận Tác dụng của liệu pháp ánh sáng đỏ đã được chứng minh và nhận được nhiều sự quan tâm. Nếu bạn bị các bệnh về da, rụng tóc hoặc đau khớp, cơ và xương, hãy cân nhắc nghĩ đến liệu pháp ánh sáng đỏ. Như đã nói ở trên, điều quan trọng là bạn phải tìm một bác sĩ hay đơn vị có trình độ chuyên môn để thực hiện liệu pháp ánh áng đỏ phù hợp với tình trạng cụ thể mà bạn đang cố gắng điều trị. Tùy thuộc vào tình trạng bệnh, mỗi bệnh nhân sẽ có phương pháp điều trị và khả năng hồi phục khác nhau. Để biết bạn phù hợp với cách điều trị nào, hãy liên hệ với FSCB để được hỗ trợ. FSCB là đơn vị cung cấp các dịch vụ ngăn ngừa lão hóa bằng liệu pháp ánh sáng đỏ uy tín tại Việt Nam, nên bạn có thể hoàn toàn an tâm khi chọn nhé. Nguồn tài liệu Red Light Therapy Benefits For Skin, Hair & Side Effects Tác giả Ali Rajabi-Estarabadi, Ariel E. Eber và Keyvan Nouri. Biên dịch Bác sĩ Trương Tấn Minh Vũ. Để tải bài viết Liệu pháp laser và ánh sáng cho mụn trứng cá pdf mời các bạn click vào link ở đây. Mụn trứng cá là một bệnh lý da rất phổ biến, có thể gây ra sẹo và biến dạng vĩnh viễn. Mụn trứng cá là một bệnh lý đa yếu tố của các đơn vị nang lông bã nhờn và ảnh hưởng những vùng da tập trung nhiều nang lông bã nhờn nhất như mặt, cổ, ngực và lưng. Các liệu pháp điều trị mụn trứng cá phổ biến gồm retinoids, chất tiêu sừng, chất kháng khuẩn và chất chống viêm. Sự cần thiết một phương pháp điều trị thay thế đã dẫn đến việc nghiên cứu laser và ánh sáng như một phương pháp điều trị mới. Laser diode 1450 nm, laser PDL 585 và 595 nm, laser diode hồng ngoại gần, laser NdYAG 1320 nm, laser KTP 532 nm, laser NdYAG xung dài 1064 nm, laser 1540 nm Erbium ErGlass và laser 1550 nm Er Glass fractional là các loại laser phổ biến nhất được sử dụng để điều trị mụn trứng cá và sẹo mụn. Laser 1540 nm Erbium ErGlass và 1550 nm ErGlass fractional là một trong những loại laser phổ biến nhất được sử dụng để điều trị mụn trứng cá và sẹo mụn. Các tia laser này nhắm mục tiêu vào các nguyên nhân căn bản của mụn trứng cá bao gồm sự xâm nhập của vi khuẩn Priopionibacterium acnes, mức độ sản xuất bã nhờn cao, quá trình sừng hóa bị thay đổi, viêm và sự xâm nhập của vi khuẩn ở các nang lông trên mặt, cổ và lưng. Giới thiệu Mụn trứng cá là bệnh lý da phổ biến nhất, ảnh hưởng đến khoảng 35–90% thanh thiếu niên và tiếp tục là một vấn đề phổ biến ở những người trên 20 tuổi [1–3]. Trên thực tế, tại Hoa Kỳ, ước tính có khoảng 9,6 triệu người đã đến gặp bác sĩ để điều trị mụn vào năm 2010 và hơn 60% trong số này trên 18 tuổi [4]. Bệnh lý da phổ biến này có thể gây sẹo và biến dạng vĩnh viễn, có thể dẫn đến những hậu quả nặng nề trong quá trình phát triển tâm lý và nhân cách. Trên thực tế, nó có liên quan đến tỷ lệ cao trầm cảm và tự tử liên quan đến bệnh da [5, 6]. Vì những lý do này, việc kiểm soát mụn hiệu quả có thể cải thiện tình sự tự tin, ngoại hình và các vấn đề khác về chất lượng cuộc sống [7, 8]. Mụn trứng cá là một bệnh lý đa yếu tố của đơn vị nang lông bã nhờn và ảnh hưởng đến các vùng trên cơ thể có nhiều nang bã nhờn nhất gồm mặt, ngực, cổ và lưng. Có những yếu tố chính được cho là góp phần vào sự phát triển của mụn trứng cá, gồm sự tăng sừng hoá kết hợp với sản xuất bã nhờn quá mức gây tắc lỗ chân lông, sự phát triển của vi khuẩn Propionobacterium acnes P. acnes trong môi trường này gây ra sự tăng sản xuất cytokine gây viêm và axit béo tự do, và cuối cùng, kích ứng tăng thêm do các yếu tố gây viêm và axit béo tự do. Các nghiên cứu cũng cho thấy các yếu tố di truyền, thần kinh nội tiết và chế độ ăn uống có thể góp phần trong quá trình đa yếu tố của cơ chế bệnh sinh mụn trứng cá [9- 11]. Hiện tại, không có hệ thống thang điểm hoặc phân loại mụn nào có thể được khuyến cáo. Tuy nhiên, các bác sĩ lâm sàng có thể thấy hữu ích khi xác định mức độ nghiêm trọng của mụn trứng cá theo các thông số nhất định. Các hệ thống như vậy có thể hỗ trợ phân loại bệnh cụ thể hơn, xác định các lựa chọn điều trị thích hợp và theo dõi sự cải thiện trong quá trình điều trị. Có một số công cụ được chấp nhận có tính đến loại mụn, mức độ nghiêm trọng của mụn, số lượng tổn thương do mụn comedom, sẩn, mụn mủ, vị trí giải phẫu /mức độ mụn trứng cá, chất lượng cuộc sống và các chỉ số tâm lý xã hội khác, và mức độ sẹo. Mặc dù hầu hết bệnh nhân sẽ cải thiện theo thời gian, nhưng một số thì không và có ảnh hưởng nghiêm trọng về lâu dài do mụn, gồm mẩn đỏ, tăng sắc tố và sẹo vĩnh viễn teo, phì đại và sẹo lồi [12]. Các liệu pháp phổ biến được sử dụng để điều trị mụn trứng cá bao gồm chất tiêu sừng, chất kháng khuẩn, chống viêm, retinoid, hormon, siêu mài da và lột da bằng hóa chất [12, 13]. Sự cần thiết về một phương pháp điều trị thay thế đã dẫn đến việc nghiên cứu laser và các nguồn ánh sáng như một phương pháp điều trị tiềm năng. Cơ chế hoạt động dựa trên thực tế là các tia laser có thể phát ra các bước sóng gây phá hủy trực tiếp vi khuẩn P. acnes hoặc tổn thương quang nhiệt đối với các tuyến bã nhờn. Các liệu pháp laser Tia laser phát ra ánh sáng đồng nhất có thể cung cấp độ chiếu xạ rất cao bằng cách tập trung vào một vùng mô nhỏ được nhắm mục tiêu. Cơ chế hoạt động là các tia laser có thể phát ra các bước sóng được hấp thụ có chọn lọc bởi oxyhemoglobin của các mạch máu giãn nở trong mụn bị viêm, kích hoạt các porphyrin của vi khuẩn dẫn đến việc P. acnes tự huỷ, hoặc giảm sản xuất bã nhờn bằng cách tổn thương quang nhiệt đối với các tuyến bã nhờn. Laser cung cấp các lựa chọn thay thế để điều trị mụn trứng cá có thể có tác dụng nhanh chóng, tác dụng phụ toàn thân thấp và không cần điều trị hàng ngày. Phương pháp điều trị mụn bằng laser bao gồm diode 1450 nm, PDL 585 nm, NdYAG 1320nm và Erbium ERGlass 1540nm . Laser PDL 585-nm Các laser PDL 585 nm và 595 nm nhắm trực tiếp vào P. acnes. Phương thức hoạt động của PDL dựa trên nguyên tắc quang nhiệt có chọn lọc, gây phá huỷ có mục tiêu các cấu trúc cụ thể trong da mà không làm tổn thương vùng xung quanh [14]. Thông thường, PDL có hiệu quả trong điều trị các tổn thương mạch máu cũng như u mạch máu, bớt rượu vang, và chứng giãn da mặt [15]. Tuy nhiên PDL cũng có thể kích hoạt các porphyrin của vi khuẩn và do đó gây ra quá trình quang nhiệt có chọn lọc của hệ mạch giãn trong mụn viêm [16–18]. Seaton và cộng sự đã thực hiện một nghiên cứu mù đôi ngẫu nhiên ở 41 bệnh nhân bị mụn trứng cá nhẹ đến trung bình. Họ chỉ định bệnh nhân một cách ngẫu nhiên để điều trị PDL hoặc giả tạo. Mười hai tuần sau một lần điều trị PDL với hai mật độ năng lượng khác nhau ở mỗi bên mặt, kết quả báo cáo giảm 49% tổn thương do mụn viêm ở cả hai bên mặt [19]. Orringer và cộng sự đã thực hiện một nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng split-face ở 26 bệnh nhân. Sau 12 tuần số lượng tổn thương không thay đổi đáng kể so với vùng không được điều trị; tuy nhiên, xu hướng cải thiện mụn viêm đã được ghi nhận [20]. Leheta đã so sánh kết quả điều trị của PDL với hai phương pháp điều trị mụn trứng cá thông thường. Một nhóm gồm 15 bệnh nhân được điều trị bằng PDL, và so sánh với hai nhóm khác được điều trị tại chỗ thông thường axit vitamin A, benzoyl peroxide hoặc lột da bằng hóa chất axit trichloroacetic 25%. Ghi nhận giảm đáng kể ở cả ba nhóm; tuy nhiên trong thời gian theo dõi, sự thuyên giảm cao hơn đáng kể ở nhóm PDL [21]. Jasim và cộng sự đã thực hiện một nghiên cứu split-face ở 10 bệnh nhân, trong đó một nửa khuôn mặt được điều trị bằng PDL và vị trí không được điều trị làm đối chứng. Họ cho thấy sự cải thiện rõ rệt của các tổn thương do mụn trứng cá trên vị trí được điều trị ở 50% bệnh nhân. PDL dường như là một phương pháp điều trị hiệu quả đối với mụn trứng cá [22]. Laser KTP 532-nm Laser KTP 532 nm thường được sử dụng để điều trị giãn mạch mặt và bệnh rosacea nhưng gần đây cũng đã được chứng minh là có hiệu quả để điều trị mụn trứng cá [23]. Nó sử dụng phổ ánh sáng xanh được cho là để kích hoạt porphyrin của vi khuẩn bằng ánh sáng và tạo ra tổn thương nhiệt không đặc hiệu giới hạn ở các tuyến bã nhờn [24]. Trong một nghiên cứu split-face trên 26 bệnh nhân sau bốn lần điều trị bằng laser KTP, mức độ nghiêm trọng của mụn giảm 34,9% và 20,7% lần lượt được thể hiện ở 1 tuần và 4 tuần [25]. Trong một nghiên cứu khác, 25 bệnh nhân được điều trị bằng laser KTP ở mật độ năng lượng từ 6 đến 12 J/cm2 đã đạt được 60–70% giảm mụn sau sáu lần điều trị [26]. Bowes và cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu split-face, điều trị một nửa khuôn mặt của 11 bệnh nhân bị mụn trứng cá nhẹ đến trung bình bằng laser KTP. Báo cáo giảm 35,9% mụn trứng cá sau 1 tháng, trong khi nửa đối chứng tăng 1,8%. Ghi nhận có sự giảm sản xuất bã nhờn, nhưng chỉ có tác động tối thiểu đối với P. acnes [24]. Yilmaz và cộng sự cũng đánh giá hiệu quả và độ an toàn của laser KTP 532-nm và so sánh hiệu quả của việc áp dụng một lần và hai lần hàng tuần trong điều trị mụn trứng cá nhẹ đến trung bình ở hai nhóm 38 bệnh nhân, nhóm 1 áp dụng một lần mỗi tuần và nhóm hai, hai lần mỗi tuần. Họ báo cáo sự cải thiện có ý nghĩa thống kê ở phiên kiểm soát thứ hai p = 0,005 ở nhóm I, và ở phiên kiểm soát đầu tiên p = 0,004, và phiên kiểm soát thứ hai p 0,05 và các tác dụng phụ ít xảy ra hơn ở nhóm được điều trị bằng ánh sáng xanh [55]. Kết hợp ánh sáng xanh / đỏ Mặc dù theo lý thuyết, porphyrin phản ứng tốt với ánh sáng xanh, nhưng nó có bước sóng ngắn hơn, và do đó không thâm nhập tốt vào da [56]. Các bước sóng dài hơn như ánh sáng đỏ đã được kết hợp với ánh sáng xanh trong liệu pháp trị mụn. Ánh sáng đỏ bước sóng 600–650 nm đi sâu vào da hơn ánh sáng xanh. Trên thực tế, ánh sáng 635 nm có thể xuyên qua da tới 6 mm so với 1–2 mm đối với ánh sáng ở 400–500 nm. Ánh sáng đỏ cũng được chứng minh là có hiệu quả trong điều trị mụn trứng cá bằng cách kích hoạt porphyrin ở dải Q và giảm viêm bằng cách kiểm soát sự giải phóng cytokine từ đại thực bào [57–61]. Trong một nghiên cứu mù đơn ngẫu nhiên, có đối chứng, Papageorgiou so sánh ánh sáng hỗn hợp xanh và ánh sáng đỏ tương ứng là 415 nm và 660 nm với ánh sáng xanh 415 nm hoặc benzoyl 5% peroxide ở 140 bệnh nhân bị mụn trứng cá nhẹ đến trung bình. Với việc sử dụng kết hợp ánh sáng xanh-đỏ, sự cải thiện cuối cùng là 76% các tổn thương viêm được ghi nhận khi theo dõi trong 12 tuần, cao hơn đáng kể so với kết quả đạt được bằng ánh sáng xanh hoặc benzoyl peroxide. Ngoài ra, sự cải thiện trung bình cuối cùng đối với mụn trứng cá bằng sử dụng ánh sáng xanh-đỏ là 58%, tốt hơn so với kết quả của các phương pháp điều trị tích cực khác; tuy nhiên, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê [57]. Goldberg và Russel đã đánh giá 22 bệnh nhân bị mụn trứng cá ở mặt đối xứng từ nhẹ đến nặng với sự kết hợp của ánh sáng xanh và đỏ. Bệnh nhân được điều trị tám buổi, hai buổi mỗi tuần cách nhau 3 ngày, xen kẽ giữa ánh sáng xanh 20 phút / buổi và ánh sáng đỏ 20 phút / buổi. Bệnh nhân được mài da nhẹ trước mỗi lần điều trị. Mụn trứng cá được đánh giá lúc ban đầu và ở các tuần thứ 2, 4, 8 và 12. Tại thời điểm theo dõi sau 4 tuần, mức độ giảm thương tổn trung bình là đáng kể là 46% p = 0,001. Tại thời điểm theo dõi sau 12 tuần, số lượng tổn thương giảm trung bình cũng có ý nghĩa là 81% p = 0,001. Mụn trứng cá nặng cho thấy phản ứng tốt hơn một chút so với mụn trứng cá nhẹ. Comedones không đáp ứng cũng như các tổn thương viêm [61]. Trong một nghiên cứu được thực hiện bởi Lee và cộng sự, 24 bệnh nhân bị mụn trứng cá ở mức độ nhẹ đến trung bình được điều trị bằng thiết bị LED quasimonochromatic, xen kẽ ánh sáng xanh và đỏ hai lần một tuần trong 4 tuần. 8 tuần sau lần điều trị cuối cùng, tỷ lệ phần trăm cải thiện trung bình đối với các tổn thương không viêm và viêm tương ứng là 34,28% và 77,93%. Không có bệnh nhân nào báo cáo bất kỳ phản ứng phụ nào liên quan đến việc điều trị [60]. Ánh sáng xung cường độ cao IPL Ánh sáng xung cường độ cao IPL sử dụng đèn flash để cho quang phổ rộng, từ ánh sáng nhìn thấy không nhất quán xanh lục, vàng và đỏ tới các bước sóng hồng ngoại gần. Điều trị mụn bằng IPL đã cho thấy một số kết quả rất hứa hẹn. Trong một nghiên cứu của Gregory và các đồng nghiệp, 50 bệnh nhân bị mụn trứng cá từ nhẹ đến nặng đã được điều trị bằng IPL trong 1 tháng. Những bệnh nhân này cho thấy giảm 60% tổn thương khi theo dõi 1 tháng, so với mức tăng 32% ở nhóm chứng [62]. Trong một nghiên cứu được thực hiện bởi Elman và đồng nghiệp trên 19 bệnh nhân bị mụn trứng cá, họ đã chỉ ra rằng IPL giúp loại bỏ 85% các tổn thương viêm và 87% các tổn thương không viêm trong 2 tháng [63]. Họ cũng tiến hành một nghiên cứu để kiểm tra vai trò của ánh sáng xung và năng lượng nhiệt trong việc làm sạch mụn. Một hệ thống với xung ánh sáng và nhiệt đã được sử dụng trong điều trị hai tuần một lần trong 4 tuần với bước sóng từ 430 đến 1100 nm. Nghiên cứu này cho thấy khoảng 75% sạch các tổn thương viêm 1 tháng sau lần điều trị cuối cùng [64]. Wat và cộng sự đã đánh giá hiệu quả của IPL trong điều trị mụn trứng cá trong một system review. Họ sử dụng 21 nghiên cứu 2 thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng, 7 thử nghiệm so sánh giữa phải và trái, 11 thử nghiệm nhãn mở không đối chứng và 1 nghiên cứu quan sát hồi cứu với tổng số 544 bệnh nhân. Họ đã phân loại các nghiên cứu thành hai nhóm IPL đơn lẻ và IPL kết hợp với PDT. Các tác giả báo cáo rằng hiệu quả của IPL trong điều trị mụn trứng cá dao động từ 34% đến 88,3% tùy thuộc vào loại tổn thương mụn trứng cá viêm hoặc không viêm, với hầu hết các nghiên cứu cho thấy sự cải thiện từ 40% đến 60%. Ngoài ra, tổng quan này nói rằng mặc dù IPL đơn trị liệu cho thấy lợi ích trong điều trị mụn trứng cá, nhưng bằng chứng cho thấy hiệu quả cao hơn khi điều trị bằng IPL kết hợp với PDT [65]. Ianosi và cộng sự đã so sánh hiệu quả của IPL có chân không so với IPL với giả dược ở 180 bệnh nhân bị mụn trứng cá và mụn viêm từ nhẹ đến trung bình nhóm A – 60 bệnh nhân được điều trị bằng chân không và IPL, nhóm V – 60 bệnh nhân được điều trị bằng IPL và nhóm chứng – 60 bệnh nhân được điều trị với Sebium H2O Micellaire Solution. Họ báo cáo giảm đáng kể số lượng sẩn, mụn mủ và comedon ở nhóm A và V so với những người ở nhóm chứng p 0,05. Ngoài ra, các tác giả cho biết không có sự khác biệt đáng kể về hiệu quả của hai phương pháp trong việc giảm cả hai loại tổn thương do mụn trứng cá p> 0,05 [68]. Một nghiên cứu của Barakat và cộng sự đã đánh giá 24 bệnh nhân bị mụn trứng cá để đánh giá hiệu quả của IPL trong sáu lần điều trị. Họ cho thấy giảm đáng kể tất cả các tổn thương do mụn trứng cá, đặc biệt là loại viêm ở 2 tuần và 3 tháng sau khi kết thúc điều trị p <0,05 [69]. Kết luận Điều trị mụn trứng cá là một quá trình khó khăn do cơ chế bệnh sinh rất đa dạng. Sử dụng laser và ánh sáng hoặc liệu pháp kết hợp đã được chứng minh là phương pháp điều trị hiệu quả đối với mụn trứng cá từ nhẹ đến nặng ở nhiều loại da khác nhau. Tuy nhiên, cần phải nghiên cứu thêm để xác định tính an toàn và hiệu quả lâu dài, đồng thời thiết lập các thông số tối ưu để tối đa hóa hiệu quả của phương thức điều trị đang phát triển này. Tài liệu tham khảo 1. Perper M, Tsatalis J, Eber AE, Cervantes J, Nouri K. Lasers in the treatment of acne. G Ital DermatolVenereol. 2017;1524360–72. 2. Collier CN, Harper JC, Cafardi JA, et al. The prevalence of acne in adults 20 years and older. J Am Acad Dermatol. 2008;58156–9. 3. Stathakis V, Kilkenny M, Marks R. Descriptive epidemiology of acne vulgaris in the community. Australas J Dermatol. 1997;383115–23. 4. Yentzer BA, Hick J, Reese EL, Uhas A, Feldman SR, Balkrishnan R. Acne vulgaris in the United States a descriptive epidemiology. Cutis. 2010;862 94–9. 5. Dalgard F, Gieler U, Holm JO, Bjertness E, Hauser S. Self-esteem and body satisfaction among late adolescents with acne results from a population survey. J Am Acad Dermatol. 2008;595746–51. 6. Cotterill JA, Cunliffe WJ. Suicide in dermatological patients. Br J Dermatol. 1997;1372246–50. 7. Cunliffe WJ. Acne and unemployment. Br J Dermatol. 1986;1153386. 8. St. Sauver JL, Warner DO, Yawn BP, et al. Why patients visit their doctors assessing the most prevalent conditions in a defined American population. Mayo Clin Proc. 2013;88156–67. 9. Muizzuddin N, Giacomoni P, Maes D. Acne—a multifaceted problem. Drug Discov Today Dis 10. Toyoda M, Morohashi M. Pathogenesis of acne. Med Electron Microsc. 2001;34129–40. 11. Zaenglein AL, Pathy AL, Schlosser BJ, et al. Guidelines of care for the management of acne vulgaris. J Am Acad Dermatol. 2016;745945–73. e933 12. Leyden JJ. Therapy for acne vulgaris. N Engl J Med. 1997;336161156–62. 13. Keri J, Shiman M. An update on the management of acne vulgaris. Clin Cosmet Investig Dermatol. 2009;2105–10. 14. Erceg A, de Jong EM, van de Kerkhof PC, Seyger MM. The efficacy of pulsed dye laser treatment for inflammatory skin diseases a systematic review. J Am Acad Dermatol. 2013;694609–15. 15. Nouri K, Ballard CJ. Laser therapy for acne. Clin Dermatol. 2006 Jan-Feb;24126–32. 16. Bjerring P, Clement M, Heickendorff L, Lybecker H, Kiernan M. Dermal collagen production following irradiation by dye laser and broadband light source. J Cosmet Laser Ther. 2002;439–43. 17. Patel N, Clement M. Selective nonablative treatment of acne scarring with 585 nm flashlamp pulsed dye laser. Dermatol Surg. 2002;28942–5. 18. Tan OT, Sherwood K, Gilchrest BA. Treatment of children with port-wine stains using the flashlamp pulsed tunable dye laser. N Engl J Med. 1989;320416–21. 19. Seaton ED, Charakida A, Mouser PE, Grace I, Clement RM, Chu AC. Pulsed-dye laser treatment for inflammatory acne vulgaris randomized controlled trial. Lancet. 2003;3621347–52. 20. Orringer JS, Kang S, Hamilton T, Schumacher W, Cho S, Hammerberg C, et al. Treatment of acne vulgaris with a pulsed dye laser a randomized controlled trial. JAMA. 2004;2912834–9. 21. Leheta TM. Role of the 585-nm pulsed dye laser in the treatment of acne in comparison with other topical therapeutic modalities. J Cosmet Laser Ther. 2009;11118–24. 22. Jasim ZF, Al-Qarqaz F, Handley JM. Effect of single pulsed dye laser treatment on acne vulgaris [letter]. Dermatol Surg. 2005;311483. 23. Jih MH, Kimyai-Asadi A. Laser treatment of acne vulgaris. Semin Plast Surg. 2007;213167–74. 24. Bowes LE, Manstein D, Anderson RR. Effects of 532 nm KTP laser exposure on acne and sebaceous glands. Lasers Surg Med. 2003;18S6–7. 25. Baugh W, Kucaba W. Nonablative phototherapy for acne vulgaris using the KTP 532 nm laser. Dermatol Surg. 2005;311290–6. 26. Lee MC. Aura 532 nm laser for acne vulgaris—3-year experience. New Orleans, LA Presented at 2003 ASDS-ACMMSCO Combined Annual Meeting; October 9–12, 2003. 27. Yilmaz O, Senturk N, Yuksel EP, Aydin F, Ozden MG, Canturk T, Turanli A. Evaluation of 532-nm KTP laser treatment efficacy on acne vulgaris with once and twice weekly applications. J Cosmet Laser Ther. 2011;136303–7. 28. Paithankar DY, Ross EV, Saleh BA, Blair MA, Graham BS. Acne treatment with a 1450 nm wavelength laser and cryogen spray cooling. Lasers Surg Med. 2002;31106–14. 29. Friedman PM, Jih MH, Kimyai-Asadi A, Goldberg LH. Treatment of inflammatory facial acne vulgaris with the 1450-nm diode laser a pilot study. Dermatol Surg. 2004;30147–51. 30. Mazer JM. Treatment of facial acne with a 1450 nm diode laser a comparative study. Lasers Surg Med. 2004;34S67. 31. Alam M, Peterson SR, Silapunt S, Chopra K, Friedman PM, Goldberg LH. Comparison of the 1450 nm diode laser for the treatment of facial acne a left–right randomized trial of the efficacy and adverse effects. Lasers Surg Med. 2003;32S30. 32. Astner S, Tsao SS. Clinical evaluation of a 1,450-nm diode laser as adjunctive treatment for refractory facial acne vulgaris. Dermatol Surg. 2008;3481054–61. 33. Uebelhoer NS, Bogle MA, Dover JS, Arndt KA, Rohrer TE. Comparison of stacked pulses versus double-pass treatments of facial acne with a 1,450-nm laser. Dermatol Surg. 2007;335552–9 34. Perez-Maldonado A, Rünger TM, Krejci-Papa N. The 1,450-nm diode laser reduces sebum production in facial skin a possible mode of action of its effectiveness for the treatment of acne vulgaris. Lasers Surg Med. 2007;392189–92. 35. Darne S, Hiscutt EL, Seukeran DC. Evaluation of the clinical efficacy of the 1,450 nm laser in acne vulgaris a randomized split-face, investigator-blinded clinical trial. Br J Dermatol. 2011;16561256– 62. 36. Chernoff G. The utilization of 1320 nm NdYAG energy for the treatment of active acne vulgaris. Cooltouch Inc White Paper; 2004. 37. Orringer JS, Kang S, Maier L, Johnson TM, Sachs DL, Karimipour DJ, Helfrich YR, Hamilton T, Voorhees JJ. A randomized, controlled, split-face clinical trial of 1320-nm NdYAG laser therapy in the treatment of acne vulgaris. J Am Acad Dermatol. 2007;563432–8. 38. Lupton JR, Williams CM, Alster TS. Nonablative laser skin resurfacing using a 1540 nm erbium glass laser a clinical and histologic analysis. Dermatol Surg. 2002;289833–5. 39. Boineau D, Angel S, Nicole A, Dahan S, Mordon S. Treatment of active acne with an Erglass um laser. Lasers Surg Med. 2004;34S55. 40. Kassir M, Newton D, Maris M, Euwer R, Servell P. Erglass mm laser for the treatment of facial acne vulgaris. Lasers Surg Med. 2004;34S65. 41. Bogle MA, Dover JS, Arndt KA, Mordon S. Evaluation of the 1,540-nm ErbiumGlass laser in the treatment of inflammatory facial acne. Dermatol Surg. 2007; 337810–7. 42. Moneib H, Tawfik AA, Youssef SS, Fawzy MM. Randomized split-face controlled study to evaluate 1550-nm fractionated erbium glass laser for treatment of acne vulgaris—an image analysis evaluation. Dermatol Surg. 2014;40111191–200. 43. Liu Y, Zeng W, Hu D, Jha S, Ge Q, Geng S, Xiao S, Hu G, Wang X. The long-term effect of 1550 nm erbiumglass fractional laser in acne vulgaris. Lasers Med Sci. 2016;313453–7. 44. Lee W, Shalita A, Poh-Fitzpatrick M. Comparative studies of porphyrin production in Propionibacterium acnes and Propionibacterium granulosum. J Bacteriol. 1978;133811–5. 45. Weishaupt K, Gomer C, Dougherty T. Identification of singlet oxygen as the cytotoxic agent in photoinactivation of a murine tumor. Cancer Res. 1976;36 2326–9. 46. Niedre M, Yu C, Patterson M, et al. Singlet oxygen luminescence as an in vivo photodynamic therapy dose metric validation in normal mouse skin with topical amino-levulinic acid. Br J Cancer. 2005;92 298–304. 47. Taub AF. Photodynamic therapy in dermatology history and horizons. J Drugs Dermatol. 2004;31 SupplS8–S25. 48. Arakane K, Ryu A, Hayashi C, Masunaga T, Shinmoto K, Mashiko S, et al. Singlet oxygen 1Dg generation from coproporphyrin in Propionibacterium acnes on irradiation. Biochem Biophys Res Com. 1996;223578–82. 49. Kawada A, Aragane Y, Kameyama H, Sangen Y, Tezuka T. Acne phototherapy with a high-intensity, enhanced, narrow-band, blue light source an open study and in vitro investigation. J Dermatol Sci. 2002;302129–35. 50. Elman M, et al. The effective treatment of acne vulgaris by a highintensity, narrow band 405–420 nm light source. J Cosmet Laser Ther. 2003;52111–7. 51. Tzung TY, et al. Blue light phototherapy in the treatment of acne. Photodermatol Photoimmunol Photomed. 2004;205266–9. 52. Tremblay JF, Sire DJ, Lowe NJ, Moy RL. Lightemitting diode 415 nm in the treatment of inflammatory acne an open-label, multicentric, pilot investigation. J Cosmet Laser Ther. 2006;8131–3. 53. Omi T, Bjerring P, Sato S, et al. 420 nm intense continuous light therapy for acne. J Cosmet Laser Ther. 2004;63156–62. 54. Morton CA, Scholefield RD, Whitehurst C, Birch J. An open study to determine the efficacy of blue light in the treatment of mild to moderate acne. J Dermatol Treat. 2005;164219–23. 55. de Arruda LH, Kodani V, Bastos Filho A, Mazzaro C. A prospective, randomized, open and comparative study to evaluate the safety and efficacy of blue light treatment versus a topical benzoyl peroxide 5% formulation in patients with acne grade II and III. An Bras Dermatol. 2009;845463–8. 56. Kjelstad B, Johnson A. An action spectrum for blue and near ultraviolet inactivation of Propionibacterium acnes; with emphasis on a possible porphyrins photosensitization. Photochem Photobiol. 1986;4367–70. 57. Papageorgiou P, Katsambas A, Chu A. Phototherapy with blue 415 nm and red 660 nm light in the treatment of acne vulgaris. Br J Dermatol. 2000; 973-97822142. 58. Cunliffe WJ, Goulden V. Phototherapy and acne vulgaris. Br J Dermatol. 2000;142853–6. 59. Young S, et al. Macrophage responsiveness to light therapy. Lasers Surg Med. 1989;9497–505. 60. Lee SY, et al. Blue and red light combination LED phototherapy for acne vulgaris in patients with skin phototype IV. Lasers Surg Med. 2007;392180–8. 61. Goldberg DJ, Russell BA. Combination blue 415 nm and red 633 nm LED phototherapy in the treatment of mild to severe acne vulgaris. J Cosmet Laser Ther. 2006;8271–5. 62. Gregory AN, Thornfeld CR, Leibowitz KR, Lane M. A study on the use of a novel light and heat energy system to treat acne vulgaris. Cosmet Dermatol. 2004; 17287–91. 63. Elman M, Lebzelter J. Evaluating pulsed light and heat energy in acne clearance radiancy. White Paper; 2002. 64. Elman M, Lask G. The role of pulsed light and heat energy LHE TM in acne clearance. J Cosmet Laser Ther. 2004;691–5. 65. Wat H, Wu DC, Rao J, Goldman MP. Application of intense pulsed light in the treatment of dermatologic disease a systematic review. Dermatol Surg. 2014;404359–77. 66. Ianosi S, Neagoe D, Calbureanu M, Ianosi G. Investigator-blind, placebo-controlled, randomized comparative study on combined vacuum and intense pulsed light versus intense pulsed light devices in both comedonal and papulopustular acne. J Cosmet Laser Ther. 2013;155248–54. 67. El-Latif AA, Hassan FA, Elshahed AR, Mohamed AG, Elsaie ML. Intense pulsed light versus benzoyl peroxide 5% gel in treatment of acne vulgaris. Lasers Med Sci. 2014;2931009–15. 68. Mohamed EE, Tawfik K, Elsaie M. Intense pulsed light versus 1,064 long-pulsed neodymium yttriumaluminum- garnet laser in the treatment of facial acne vulgaris. J Clin Diagn Res. 2016;107WC01–3. 69. Barakat MT, Moftah NH, El Khayyat MA, Abdelhakim ZA. Significant reduction of inflammation and sebaceous glands size in acne vulgaris lesions after intense pulsed light treatment. Dermatol Ther. 2017;301. Liệu pháp ánh sáng được sử dụng như một phương pháp điều trị cho một số tình trạng sức khỏe gồm Trầm cảm theo mùa Các loại trầm cảm khác không theo mùa Rối loạn nhịp sinh học như hiện tượng jet lag Rối loạn giấc ngủ Sa sút trí tuệ Cần phân biệt với liệu pháp trong điều trị các tình trạng da như bệnh vảy nến, vàng da trẻ sơ sinh… dù cùng dùng chung một thuật ngữ. Các rối loạn về da sử dụng đèn phát ra tia cực tím UV trong khi phương pháp được đề cập trong bài viết này đã lọc tia UV ra vì nó có thể làm hỏng mắt và da của người bệnh. Điều cần thận trọng Liệu pháp ánh sáng có nguy hiểm không? Nhìn chung, đây là phương pháp an toàn. Tuy nhiên nếu có tác dụng phụ xảy ra, chúng thường nhẹ và không kéo dài, chẳng hạn như Mỏi mắt Đau đầu Buồn nôn Khó chịu hoặc kích động Hưng cảm, hưng phấn, hiếu động hoặc kích động, những trạng thái có liên quan đến rối loạn lưỡng cực Nếu xảy ra, tác dụng phụ có thể tự hết sau vài ngày kể từ khi bắt đầu trị liệu bằng ánh sáng. Để kiểm soát các tác dụng phụ này, người bệnh có thể giảm thời gian điều trị, di chuyển ra xa hơn khỏi thiết bị phát sáng, nghỉ ngơi giữa các phiên trị liệu dài hoặc thay đổi thời gian sử dụng liệu pháp. Tuy nhiên, để đảm bảo kết quả tốt nhất, người bệnh nên được chuyên gia y tế giám sát trong quá trình thực hiện. Ngoài ra, hãy đảm bảo những yếu tố sau Tình trạng da ổn định. Vì làn da sẽ phải tiếp xúc với ánh sáng trong một thời gian dài nên nếu là đối tượng có da nhạy cảm với ánh sáng như mắc lupus ban đỏ hệ thống thì không nên thực hiện liệu pháp. Không dùng thuốc làm tăng mức độ nhạy cảm với ánh sáng mặt trời, chẳng hạn như một số loại thuốc kháng sinh, thuốc chống viêm hoặc thảo dược bổ sung từ cây St. John’s Wort. Không có bệnh lý về mắt khiến mắt nhạy cảm và dễ bị tổn thương hơn trước ánh sáng Một số rủi ro khác có thể đến từ Tia cực tím. Các thiết bị dùng trị liệu ánh sáng nên được thiết kế để lọc ánh sáng cực tím có hại. Tuy nhiên, một số thiết bị có thể không lọc hết được. Ánh sáng tia cực tím sẽ gây tổn thương da và mắt. Tương tự, người bệnh cũng không nên thay thế thiết bị này bằng các phương pháp làm da rám nắng như giường, buồng làm da rám nắng để chữa trị bệnh. Thận trọng khi dùng cho người rối loạn lưỡng cực. Liệu pháp có thể kích hoạt hưng cảm ở một số người mắc chứng rối loạn lưỡng cực, vì vậy hãy tham vấn ý kiến bác sĩ trước khi bắt đầu trị liệu. Quy trình thực hiện Những thông tin được cung cấp không thể thay thế cho lời khuyên của các chuyên viên y tế. Hãy luôn tham khảo ý kiến bác sĩ. Trước khi thực hiện Mặc dù không cần bác sĩ kê đơn nhưng người bệnh vẫn nên gặp bác sĩ hoặc chuyên gia chăm sóc sức khỏe tâm thần để cân nhắc thực hiện liệu pháp ánh sáng. Bác sĩ sẽ giúp người bệnh chọn thiết bị phát sáng phù hợp nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu sử dụng và giảm thiểu tác dụng phụ có thể xảy ra. Thông thường, hầu hết những người bị rối loạn cảm xúc theo mùa bắt đầu điều trị bằng liệu pháp ánh sáng vào đầu mùa thu, kéo dài đến mùa xuân. Nếu thường bị trầm cảm vào mùa thu và mùa đông, khi thời tiết nhiều mây hoặc mưa, các triệu chứng cũng trở nên nặng nề hơn. Lúc này, người bệnh có thể điều chỉnh mức ánh sáng trị liệu dựa trên thời gian không có nắng và triệu chứng. Nếu có nhu cầu sử dụng thử liệu pháp ánh sáng trong điều trị các chứng trầm cảm không theo mùa hoặc một tình trạng sức khỏe khác, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên gia. Trong khi thực hiện Trong các buổi trị liệu bằng ánh sáng, người bệnh sẽ ngồi hoặc làm việc gần thiết bị phát sáng hộp đèn. Để có hiệu quả, ánh sáng từ hộp đèn phải chiếu gián tiếp vào mắt. Nếu đang mở mắt thì không nên nhìn thẳng vào hộp đèn vì ánh sáng chói có thể làm hỏng mắt. Luôn làm theo khuyến nghị của bác sĩ và hướng dẫn từ nhà sản xuất thiết bị. Liệu pháp ánh sáng đòi hỏi thời gian và sự nhất quán. Người bệnh có thể đặt hộp đèn trên bàn trong nhà hoặc tại văn phòng để có thể vừa sinh hoạt thường nhật đọc, sử dụng máy tính, viết, xem tivi, nói chuyện điện thoại hoặc ăn uống vừa thực hiện liệu pháp ánh sáng. Cần bám sát lịch trình trị liệu nhưng không nên lạm dụng. Liệu pháp này đạt hiệu quả nhất khi có sự kết hợp đúng giữa cường độ ánh sáng, thời lượng và thời điểm. Cường độ. Cường độ ánh sáng của hộp đèn được tính bằng lux. Đối với chứng trầm cảm theo mùa, mức khuyến nghị là lux ở khoảng cách 40-60cm tính từ mặt. Thời lượng. Với hộp đèn lux, người bệnh có thể thực hiện liệu pháp hằng ngày khoảng 20-30 phút. Tuy nhiên, nếu dùng hộp đèn cường độ ánh sáng thấp hơn như lux thì cần thực hiện các phiên trị liệu dài hơn. Hãy kiểm tra hướng dẫn từ nhà sản xuất và làm theo tham vấn của bác sĩ. Người bệnh có thể bắt đầu bằng các phiên ngắn, sau đó tăng dần thời lượng trị liệu. Thời điểm. Đối với hầu hết mọi người, liệu pháp ánh sáng có hiệu quả nhất khi thực hiện vào sáng sớm, sau khi thức dậy. Bác sĩ có thể giúp xác định lịch trình trị liệu bằng ánh sáng nào là phù hợp nhất cho người bệnh. Liệu pháp ánh sáng không bảo đảm có hiệu quả với tất cả mọi đối tượng nhưng có thể thực hiện các bước để tận dụng tối đa liệu pháp như sau Chọn đúng loại hộp đèn. Hãy tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi quyết định mua thiết bị trị liệu bằng ánh sáng nhằm chọn được loại có độ sáng và tính năng phù hợp, thuận tiện khi sử dụng. Kiên nhẫn. Duy trì liệu pháp như một thói quen hằng ngày để tăng mức độ cải thiện theo thời gian. Nếu không thể thực hiện mỗi ngày, người bệnh có thể ngừng trong 1-2 ngày nhưng nên theo dõi tâm trạng và các triệu chứng khác cũng như cố gắng sắp xếp để thực hiện liệu pháp mỗi ngày. Theo dõi thời gian. Nếu thời gian trị liệu bị gián đoạn, các triệu chứng bệnh có thể quay trở lại. Do đó, cần theo dõi thời điểm bắt đầu và kết thúc trị liệu để lập thành lịch trình cho các năm sau đó. Bổ sung các biện pháp điều trị khác. Nếu các triệu chứng không đáp ứng với liệu pháp ánh sáng, người bệnh có thể cần được điều trị bổ sung. Tham vấn ý kiến từ bác sĩ về các lựa chọn điều trị khác chẳng hạn như thuốc chống trầm cảm hoặc tâm lý trị liệu. Kết quả của liệu pháp Kết quả của liệu pháp ánh sáng là gì? Liệu pháp ánh sáng là một cách hỗ trợ làm giảm các triệu chứng của bệnh trầm cảm theo mùa hay các chứng trầm cảm khác. Từ đó giúp tăng mức năng lượng của người bệnh, cải thiện tinh thần để có thể tự tin hơn về bản thân và cuộc sống. Liệu pháp thường bắt đầu có tác dụng chỉ trong vài ngày. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, thời gian hiệu lực có thể mất từ 2 tuần trở lên. Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi nào, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ để được tư vấn phương pháp hỗ trợ điều trị tốt nhất. Hello Bacsi không đưa ra các lời khuyên, chẩn đoán hay các phương pháp điều trị y khoa.

liệu pháp ánh sáng